7 bệnh dễ mắc khi thời tiết giao mùa

Share:

 

Cảm cúm

Khi nhiêt độ thay đổi từ nóng sang lạnh hoặc từ mưa sang nắng một cách bất thường, hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triên, không đáp ứng kịp với những thay đổi đó nên rất dễ mắc bệnh cảm cúm. Cùng đó là tiết trời mùa thu với đặc điểm không khí lúc ẩm ướt, lúc hanh khô là điều kiện để virut gây bệnh phát triển. Từ những điều kiện bất lợi trên mà trẻ nhỏ trở thành đối tượng rất dễ mắc bệnh khi thời tiết giao mùa.

Cúm, hay còn gọi là cảm cúm, là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do các virus cúm gây ra. Bệnh bắt đầu đột ngột và thường kéo dài 7 đến 10 ngày. Hầu hết mọi người bình phục hoàn toàn. Tuy nhiên, đối với người già, trẻ nhỏ và người có hệ miễn dịch yếu, cúm có thể chuyển biến nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong do các biến chứng. Ngoài ra, hiện nay các loại virus cúm nguy hiểm, có khả năng lây lan rộng, đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn như H5N1, H1N1, H7N9…

Triệu chứng:

Triệu chứng bệnh cảm cúm thường xuất hiện ra đột ngột và bắt đầu 24 đến 48 giờ sau khi tiếp xúc với virus cúm. Các triệu chứng nặng thường kéo dài 3 đến 5 ngày. Chúng bao gồm: Sốt cao (40°C); Ớn lạnh; Ho; Hắt hơi; Sổ mũi; Đau họng; Đau cơ; Đau đầu; Cảm thấy yếu hoặc mệt mỏi; Mắt nhạy cảm với ánh sáng; Dạ dày khó chịu (xảy ra ở trẻ em nhiều hơn người lớn); Ho và cảm giác mệt mỏi có thể kéo dài đến 6 tuần Có thể có các triệu chứng và dấu hiệu khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Điều trị:

 Thông thường, bạn chỉ cần nghỉ ngơi và uống đủ nước là có thể khỏi bệnh.

Bạn có thể dùng các loại thuốc cảm cúm giúp làm giảm các triệu chứng như acetaminophen (Tylenol) và ibuprofen (Advil, Motrin) để giảm sốt, siro ho và thuốc thông mũi. Tuy nhiên, không được dùng aspirin.

Ngoài ra bạn có thể tắm nước ấm hoặc sử dụng miếng dán nóng có thể làm giảm đau cơ. Máy phun sương có thể làm giảm tiết nước bọt và súc miệng bằng nước muối ấm hay nước súc miệng có thể làm giảm đau họng.

Khi thấy triệu chứng của bệnh càng ngày càng nặng, cần gặp bác sĩ để được tư vấn hoặc dùng thuốc kháng virus trong những trường hợp bị cúm nặng hoặc có nguy cơ bị biến chứng.

Phòng bệnh:

 Tiêm vắc xin ngừa cúm mỗi năm;

Uống nhiều nước (ít nhất 8 ly mỗi ngày) để làm loãng đờm nhày từ phổi;

Ngưng hút thuốc để làm giảm nguy cơ gặp biến chứng;

Nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt. Tiếp tục nghỉ ngơi 2-3 ngày sau khi khỏi bệnh;

Rửa tay thường xuyên, kể cả người chăm sóc. Vứt tất cả khăn giấy sau khi sử dụng xong;

Đi khám ngay nếu sốt hoặc ho nặng hơn, thở gấp hoặc đau ngực, ho ra đờm có máu, đau hoặc cứng cổ;

Gọi cho bác sĩ nếu bạn bị đau và chảy dịch mủ từ tai hoặc mũi.

 

Viêm phổi

Viêm phổi cũng là một bệnh rất dễ mắc khi thời tiết giao mùa. cViêm phổi là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên viêm phổi thường xuất hiện nhiều hơn ở trẻ nhỏ và người cao tuổi. Nguyên nhân thường gặp nhất gây viêm phổi là nhiễm trùng do vi khuẩn, có thể sau một đợt nhiễm virus đường hô hấp trên như cảm cúm, viêm mũi…, lúc này virus làm tổn thương niêm mạc đường dẫn khí hô hấp làm cho vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và tấn công vào phổi. Triệu chứng điển hình của viêm phổi là sốt, ho đờm đục và đau ngực khi ho.

 

Triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm phổi là gì?

Các triệu chứng thường gặp của viêm phổi là: Ho nặng; Sốt; Ớn lạnh; Khó thở; Đau ngực tăng khi bạn thở sâu hoặc ho; Đau đầu; Mệt mỏi; Chán ăn; Buồn nôn và ói mửa. Khi trẻ gặp các dấu hiệu trên, cha mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị kịp thời, tránh biến chứng đáng tiếc.

Điều trị:

Viêm phổi là tính trạng bệnh lý nặng, vì vậy các mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở y tế có uy tín để được điều trị kịp thời. Tuyệt đối không để trẻ ở nhà để tự điều trị, hoặc dùng thuốc nam vì những việc làm trên sẽ càng làm cho tình trạng bệnh của trẻ nặng nề thêm.

Phòng bệnh viêm phổi: Khi thấy trẻ có các biểu hiện viêm đường hô hấp trên, cần đưa trẻ đi khám để được điều trị kịp thời, tránh không để viruts phát triển gây ảnh hưởng tới đường hô hấp dưới. Cần cho trẻ nghỉ ngơi đúng giờ, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng. Uống nhiều nước để tránh mất nước. Tranh cho trẻ tiếp xúc với các nguồn gây bệnh như chơi với trẻ mắc bệnh viêm mũi, cảm cúm, cha mẹ không hút thuốc trong phòng khi có trẻ nhỏ.

Bệnh di ứng

Khi thời tiết giao mùa, các bệnh dị ứng cũng là một trong những bệnh gây phiền toái cho trẻ. 

Viêm da dị ứng:

 

Viêm da dị ứng còn được gọi là viêm da dị ứng, là một tình trạng bệnh lý thường gặp của da. Đây là bệnh mãn tính và có xu hướng bùng phát rồi tự khỏi sau một khoảng thời gian. Viêm da dị ứng làm cho da trở nên nóng, ngứa, khô và tróc vảy. Mảng da khô xuất hiện ở vùng da đầu, trán và mặt. Mức độ của bệnh biến đổi từ nặng đến nhẹ. Khi bạn mắc viêm da dị ứng, bạn có thể đồng thời bị một bệnh lý khác như hen hoặc viêm mũi dị ứng. Viêm da dị ứng có thể làm bạn ngứa rất nhiều, ảnh hưởng đến giấc ngủ và sinh hoạt hàng ngày. Hãy tìm đến sự hỗ trợ của bác sĩ để ngăn tình trạng bệnh diễn tiến nặng hơn.

Triệu chứng

Viêm da dị ứng có thể có biểu hiện khác nhau ở trẻ sơ sinh, trẻ lớn hơn hay người lớn. Những triệu chứng này bao gồm: Ngứa nhiều vào buổi tối; Mảng da màu đỏ hay màu xám nâu ở tay, chân, mắt cá, cổ tay, cổ, ngực, mí mắt, bên trong vùng khuỷu tay hay đầu gối; Sẩn nhỏ; Da dày, khô và tróc vảy; Da sần, nhạy cảm và sưng lên do cào gãi.

Đối với trẻ sơ sinh, triệu chứng của bệnh thường xuất hiện sớm, vào khoảng từ 2 đến 3 tháng tuổi. Vùng da khô thường xuất hiện trên mặt, da đầu và có thể gây ra chứng mất ngủ ở trẻ. Đứa bé có thể chà xát vào giường, thảm hay những vật dụng xung quanh để giảm ngứa. Việc này rất dễ gây ra nhiễm trùng da.

Nguyên nhân nào gây ra bệnh viêm da dị ứng?

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tin rằng có một vài yếu tố có thể dẫn đến chàm. Những người bị dị ứng có thể bị chàm, ví dụ dị ứng thức ăn hay hen. Dị ứng là nguyên nhân thường gặp nhất của chàm nặng ở trẻ nhỏ. Có một số yếu tố được biết gây ra viêm da dị ứng như: xà phòng, stress, độ ẩm thấp, dị ứng theo mùa, tiếp xúc với xà phòng, chất tẩy rửa hay thời tiết lạnh.

Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh: Tiền căn bản thân hay người thân trong gia đình bị chàm, dị ứng, viêm mũi dị ứng hay hen; Nếu bạn làm trong ngành y tế, bạn có thể khả năng bị chàm ở tay do tiếp xúc với vật phẩm y tế). Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm da dị ứng ở trẻ em gồm có: Sống tại thành thị, các nước phát triển; Đi nhà trẻ; Mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD).

Điều trị: Không có phương pháp điều trị bệnh viêm da dị ứng một cách triệt để nhưng có thể điều trị để làm giảm các triệu chứng, khi thấy tình trạng viêm da của trẻ nặng, cha mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở y tế để bác sĩ khám và điều trị giảm triệu chứng cho trẻ. Để giảm ngứa cho trẻ, cha mẹ có thể dùng khăn ấm, ẩm để đắp lên vùng da bị dị ứng giúp giảm ngứa cho trẻ.

Phòng bệnh

Khi trẻ có dấu hiệu dị ứng, cha mẹ cần tránh không cho trẻ tiếp xúc yếu tố gây dị ứng cho trẻ. Điều này cùng nghĩa với việc bạn nên liệt kê tất cả những thứ dễ gây ra dị ứng mà bạn biết như thức ăn hay chất tẩy rửa, xà phòng; Giữ ẩm cho da: bạn nên dưỡng ẩm cho da ít nhất 2 lần 1 ngày. Nên dùng kem dưỡng lúc vừa tắm xong, lúc đó da của bạn vẫn còn độ ẩm. Nếu da đã khô, bạn có thể cân nhắc việc dùng dầu hay kem bôi trơn; Tránh trầy xước: việc cào gãi chỉ khiến cho da ngày càng tệ hơn. Bạn có thể hạn chế việc này bằng cách bôi chất chống ngứa. Sau đó bạn cần cắt móng tay và đeo găng khi đi ngủ; Băng ép giữ cho da mát và ẩm: che phủ vùng bị chàm với băng, băng giúp bảo vệ da và tránh cào gãi; Tắm bằng nước ấm: bạn có thể tắm bằng nước có pha baking soda hay yến mạch chưa nấu chín hoặc chất keo bột yến mạch. Sau đó, tắm lại bằng xà phòng trong 10-15 phút trước khi lau khô da và sử dụng thuốc xức ngoài da, kem dưỡng ẩm hay cả hai (sử dụng thuốc trước).

Viêm tai giữa

Viêm tai giữa là một nhóm các bệnh ở tai giữa. Có hai dạng chính là viêm tai giữa cấp tính(VTGC) và viêm tai giữa có dịch tiết (VTGTD). ] VTGC là một bệnh nhiễm trùng khởi phát đột ngột thường với triệu chứng đau tai. Ở trẻ em nhỏ đau tai thường làm bé kéo dật tai, khóc nhiều hơn, và ngủ kém. Ngoài ra, còn có khi ta thấy bé sốt và ăn uống kém đi. VTGTD thường không có các triệu chứng cơ năng chỉ điểm.  Đôi khi bệnh nhân mô tả một cảm giác đầy nặng tai. VTGTD được định nghĩa là tình trạng tai giữa nhìn thấy dịch không nhiễm trùng trong hơn ba tháng. Viêm tai giữa sinh mủ mạn tính(VTGM) là bệnh viêm tai giữa kéo dài hơn hai tuần và tình trạng này phải gây ra nhiều đợt chảy mủ ra lỗ tai. Đôi khi nguyên nhân là biến chứng từ viêm tai giữa cấp. Bệnh nhân thường hiếm khi thấy đau tai. Cả ba dạng trên đều có thể liên quan đến tình trạng khiếm thính ở bệnh nhân. Mất thính lực trong VTGTD, do là bệnh kéo dài, có thể ảnh hưởng đến khả năng học ở trẻ mắc bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây ra VTGC có liên quan đến cả cấu trúc giải phẫu và chức năng miễn dịch ở trẻ em. Tình trạng nhiễm trùng có thể là do vi khuẩn hoặc virút. Yếu tố nguy cơ gồm có sự phơi nhiễm khói, sử dụng núm vú giả, và việc đi nhà giữ trẻ. Bệnh thường xảy ra nhiều hơn ở những người mắc hội chứng Down. VTGTD thường theo sau VTGC và có thể liên quan đến các yếu tố như nhiễm virút hô hấp trên, các chất gây kích thích như khói, hay dị ứng. 

Trẻ em hay bị viêm mũi họng, vi khuẩn sẽ từ các ổ viêm này lan lên tai gây nên viêm tai giữa.

Ở trẻ em, vòi nhĩ (vòi Ơ-xtat, eustachian tube), nối hòm tai và họng mũi) ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi trùng và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa, nhất là khi em bé nằm ngửa thì tai sẽ ở vị trí thấp hơn mũi họng, nếu em bé khóc, vòi nhĩ sẽ mở rộng thêm làm cho các chất xuất tiết ở mũi họng theo đó chảy vào hòm tai.

Hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản...) ở trẻ em rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích hóa, lý và cơ học bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai gây viêm tai giữa.

 

Triệu chứng:

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ thường biểu hiện bằng các triệu chứng sau:

Trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, co giật...

Nếu là trẻ lớn, sẽ kêu đau tai, còn trẻ nhỏ chỉ biết lắc đầu, lấy tay dụi vào tai.

Rối loạn tiêu hóa: trẻ đi ngoài lỏng, nhiều lần, xuất hiện gần như đồng thời với triệu chứng sốt.

Điều trị:

Việc chẩn đoán và điều trị viêm tai giữa ở trẻ nhỏ nhất thiết phải do các thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm tiến hành. Tùy theo từng giai đoạn của bệnh mà có cách điều trị khác nhau.

 

 

Share:

Gửi Bình luận của bạn

Tin liên quan